Liên hệ    Đăng ký    Đăng nhập    Sơ đồ   VietNamese  English  Japanese 

Trang chủ
Giới thiệu
Hội viên
Sự kiện
Tin tức
Tuyển dụng
Tài nguyên ngành
 
Hội viên Hội viên
Phần mềm ưu việt Việt Nam Phần mềm ưu việt Việt Nam

 

Liên kết Website Liên kết Website

Khách thứ : 2004311
Trang chủ
“Cây đa gặp đất tốt thì rễ sau này thành gốc”
Trong ngày đầu xuân mới Nhâm Thìn 2012, báo Kinh tế Việt Nam đã có bài phỏng vấn Thứ trưởng Bộ KH&CN Nghiêm Vũ Khải để luận bàn kế sách nhằm đưa nền KH&CN nước nhà đi “đúng quỹ đạo” và đóng góp nhiều hơn nữa vào sự nghiệp phát triển đất nước.

Khơi nguồn ngân sách: Các bên cùng phải “tròn vai”

Đề cập đến câu chuyện đang thu hút sự quan tâm của dư luận đó là ngân sách đầu tư cho KH&CN, Thứ trưởng Nghiêm Vũ Khải lấy dẫn chứng từ Nhật Bản, quốc gia này hướng mục tiêu đến năm 2015 đầu tư cho KH&CN chiếm hơn 4% GDP, Thái Lan cũng chiếm đến 2% GDP (gấp 4 lần Việt Nam). Trong khi đó, Việt Nam hiện nay đang làm Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020, đặt mục tiêu đến năm 2015, ngân sách đầu tư cho KH&CN chiếm 1,5% GDP và đến năm 2020 tỷ lệ này là trên 2% GDP. Dù gấp 4 lần so với hiện tại nhưng nhìn chung con số trên vẫn còn khá khiêm tốn, phải tiếp tục phát triển và nâng lên.

 

Tuy nhiên, đặt ra vấn đề như vậy không có nghĩa là nguồn ngân sách nhà nước kham hết mà phấn đấu làm sao đến năm 2015, phải đạt tỷ lệ 50-50, nghĩa là ngân sách nhà nước bỏ ra một nửa, còn lại là các nguồn lực khác gồm cả doanh nghiệp trong lẫn ngoài nước và tổng thể toàn xã hội nhưng doanh nghiệp vẫn là nòng cốt. Còn định hướng lâu dài đến năm 2020 thì tỷ lệ nhà nước là 1 và ngoài nhà nước phải là 2. Tức là nếu chia 3 phần thì nhà nước 1 phần, còn xã hội hóa là 2 phần.

 

Thứ trưởng cho rằng: Khi chúng ta tăng đầu tư thì cũng phải tăng thêm năng lực quản lý cũng như chất lượng nguồn nhân lực. Ngoài ra cơ chế tài chính cũng phải có “đột phá” trong việc xác định nhiệm vụ, giao nhiệm vụ, thực hiện nhiệm vụ, đánh giá và chuyển giao ứng dụng. Trước đây chúng ta thường phát triển cân đối giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng nhưng trước mắt trong giai đoạn tới cần tập trung nhiều hơn vào nghiên cứu ứng dụng để sớm đưa kết quả áp dụng ngay vào sản xuất kinh doanh. Mục tiêu này cần có sự đầu tư của toàn xã hội, kể cả nhà nước và tư nhân với ngân sách đầu tư tối thiểu là 1,5% GDP. Rõ ràng là mức đầu tư này cũng chưa thỏa mãn được yêu cầu nhưng để đạt được các mục tiêu cơ bản, theo tôi quan trọng hơn cần phải có giải pháp phân chia “miếng bánh” hợp lý để đạt được những hiệu quả cao nhất.

 

Như thế nào thì hiệu quả? Theo Thứ trưởng, trước hết Nhà nước phải làm đúng vai của Nhà nước, xác định đầu tư vào đâu, đầu tư như thế nào để có hiệu quả; vừa kiểm soát chặt chẽ để tránh thất thoát, dàn trải lãng phí nhưng cũng phải tạo cơ chế thuận lợi tránh trường hợp hành chính hóa hoặc không phù hợp với thực tiễn. Làm sao khi phân bổ đáp ứng được nhiệm vụ, bố trí đủ, kịp thời, bảo đảm mục tiêu cuối cùng là có sản phẩm đầu ra. Do đó, một loạt những cơ chế tài chính như: quỹ đổi mới công nghệ, quỹ phát triển công nghệ quốc gia, quỹ đầu tư mạo hiểm… cần phải được tổ chức lại để hoạt động hiệu quả hơn, hướng đến những nhiệm vụ ưu tiên mang tính chất quốc gia và then chốt.

 

Chúng ta phải dần tiến tới tạo cho các tổ chức KH&CN cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm mạnh mẽ hơn; vừa để họ tiếp cận được với nguồn từ ngân sách nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ của nhà nước nhưng mặt khác tạo ra động lực gắn kết giữa 3 nhà: nhà nước - nhà doanh nghiệp - nhà khoa học để đảm bảo rằng nghiên cứu khoa học phải có sản phẩm và sản phẩm ấy phải bán được để tái sản xuất nhằm tạo ra được những sản phẩm ở tầm cao hơn. Muốn tạo ra được cơ chế phát huy tác dụng như vậy và để làm được cần giải quyết hàng loạt các vấn đề, các yếu tố mang tính chất phụ trợ và có tính bảo đảm như sở hữu trí tuệ, tư vấn pháp luật, tư vấn về đầu tư và dịch vụ khác có liên quan.

 

Một vấn đề khác cũng cần phải quan tâm đến đó là định mức trong nghiên cứu KH&CN. Do đây là hoạt động sở hữu trí tuệ, mang tính chất sáng tạo có đặc thù riêng nên không cần quản lý theo số ngày công và các quản lý theo cơ chế thông thường. Những giá trị về chất xám không thể cân đong được bằng ngày công, mà lao động đó phải được đánh giá và trả công một cách thỏa đáng trong điều kiện của Việt Nam.

 

Hiện nay, Bộ KH&CN đang “ấp ủ” và đã “thai nghén” một số đề án, tiến tới đệ trình với Chính phủ nhằm đổi mới cơ chế hoạt động KH&CN, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến cơ chế tài chính, cơ chế đãi ngộ nhân lực, nhân tài trong KH&CN.

 

“Một mặt chúng ta phát huy chủ nghĩa yêu nước và lòng tự trọng của các trí thức, mặt khác đảm bảo cho họ “đủ ăn” trước đã. Thường làm khoa học, không ai trở thành đại gia, hiếm lắm, đạt giải Nobel được 1,5-2 triệu USD chưa mua được một ngôi biệt thự cao cấp ở Hà Nội. Cho nên, những nhà khoa học không đòi hỏi cao nhưng chúng ta phải để họ có được sự yên tâm, bảo đảm cuộc sống”, Thứ trưởng bộc bạch.

 

 

Nguồn nhân lực: “Nội công ngoại kích”

Đề cập đến nguồn nhân lực KH&CN của Việt Nam, theo nhận định của Thứ trưởng, hiện chúng ta chưa có một cơ sở dữ liệu quốc gia đầy đủ về nhân lực KH&CN. Vì vậy để đánh thức được nguồn nhân lực, cần phải có cơ sở dữ liệu đầy đủ nhằm xây dựng quy hoạch, chiến lược phát triển nguồn nhân lực một cách đồng bộ. Cơ cấu nhân lực cũng phải hợp lý vì dân số Việt Nam hiện là dân số “vàng” với thế hệ lao động trẻ dồi dào, thông minh và có hoài bão, đây là lợi thế để chúng ta xây dựng đội ngũ nhân lực làm KH&CN.

 

Tuy nhiên, hiện nay, so với các ngành khác như ngân hàng, tài chính, hay các ngành dịch vụ khác, lĩnh vực KH&CN khó thu hút nhân tài. Xu thế của giới trẻ gần đây, những người xuất sắc ít đi vào lĩnh vực công nghệ vì thu nhập thấp, việc làm cũng như cơ hội ít hơn. Hơn nữa công việc này đòi hỏi quá trình đào tạo kỹ, đồng bộ và rất vất vả. Chính vì vậy, phải có một chế độ đãi ngộ, đặc biệt là chế độ về lương bổng, môi trường làm việc, cơ chế tuyển dụng và nâng cao trình độ cho nhân lực KH&CN. Mặc dù những chính sách này không phải là không có, chỉ có điều khi đến lúc thực thi không có cơ chế mạnh mẽ, còn nhiều vướng mắc và chưa đến nơi đến chốn. 

 

Thứ trưởng chia sẻ, trước kia ông có tham gia làm chiến lược và đọc rất nhiều chiến lược của các quốc gia. Họ mạnh dạn đầu tư và có những giải pháp rất quyết liệt, đồng bộ và liên tục, nhất quán, chứ không chỉ dừng ở nhận thức. Các chiến lược của Việt Nam phải “nhìn xa trông rộng” hơn, chọn được khâu đột phá, khâu then chốt có tính chất lan tỏa, dẫn dắt qua đó xã hội thấy được tầm quan trọng của KH&CN. Đồng thời, khi đã xác định KH&CN là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt thì phải tập trung xứng tầm cho đúng với vị trí KH&CN, từ chỉ đạo ở cấp cao đến khâu quản lý nhà nước ở cấp địa phương và rất cần sự phối hợp của các bộ, ban ngành.  

 

Suốt một thời gian dài chúng ta chưa có một môi trường KH&CN đúng nghĩa cho nên rất thiếu vắng những người đầu đàn, những tổng công trình sư về công nghệ xứng tầm gánh vác nhiệm vụ quốc gia. Thứ trưởng đặt câu hỏi: Liệu có tính đến chuyện thuê người nước ngoài không? Cũng giống như một đội bóng, KH&CN cũng phải nghĩ đến chuyện đó, thu hút các chuyên gia hay kiều bào ở nước ngoài về.

 

Nói đến đây, ông “bỗng” nhớ lại lần tiếp kiến với Bộ trưởng Bộ KH&CN của Nhật Bản hơn một tiếng đồng hồ và phía bạn đã tính đến chuyện cho phép những nhà khoa học Nhật Bản sau tuổi về hưu, khoảng 63 - 65 tuổi sang Việt Nam cùng các nhà khoa học Việt Nam hợp tác nghiên cứu. Nhật Bản có tiền, có công nghệ nhưng xã hội đang già hóa đi trong khi Việt Nam chúng ta lại có nguồn lao động trẻ dồi dào, giàu tiềm năng. Kết hợp với nhau, hai bên sẽ cùng có lợi. Tôi đang “ấp ủ” đến việc xây dựng chiến lược tổng thể hợp tác Việt - Nhật, bởi vốn ODA của Nhật Bản rót cho Việt Nam mỗi năm khoảng 2 tỷ USD cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, song cần phải tăng thêm nguồn bổ sung cho KH&CN, nhưng phải có kế hoạch rất tổng thể và cụ thể trên cơ sở “win - win”, Thứ trưởng nói.

 

Ngoài ra, khi đào tạo nguồn nhân lực tốt sẽ đón nhận được nhiều nguồn đầu tư từ nước ngoài. Chúng ta không nên chỉ nghĩ đến chuyện đi làm công nhân, đi làm hộ lý, điều dưỡng viên mà phải nghĩ đến việc đào tạo nhân lực chất lượng cao. “Cây đa mà đất tốt thì rễ sau này thành gốc”. Theo đó, nguồn nhân lực phải được đào tạo trong quá trình phát triển tại chỗ, tại vị trí công tác, chứ không chỉ đào tạo lý thuyết trong các giảng đường. Tôi đã đi nghiên cứu sinh ở Nhật 6 năm, từng nghiên cứu ở những phòng thí nghiệm, không làm thì không hình dung ra hết cái gian khổ và tính đòi hỏi rất cao của nghiên cứu sáng tạo, phải qua thực tiễn, con người mới trưởng thành.

 

Dẫn lại câu nói của các bậc tiền nhân: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, Thứ trưởng cho rằng: Cơ hội để chúng ta nắm bắt ngày càng ít đi, có thể là bây giờ hoặc là không bao giờ. Vì thế việc đánh giá tổng thể nguồn lực KH&CN không chỉ giúp chúng ta ra được những cơ chế chính sách tương đối hợp lý mà còn đánh thức được tiềm lực con người và tiềm lực tài chính. Trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa, mình phải tìm cho mình đường hướng để đi, biết lấy sức ta kết hợp với điều kiện quốc tế thuận lợi, mời gọi tạo dựng cơ hội để hấp dẫn đầu tư nước ngoài bằng nguồn nhân lực và cơ chế chính sách…

 

Theo Theo Báo Kinh tế Việt Nam, 1/2012
Số lượt đọc: 229  - Cập nhật lần cuối: 02/02/2012 11:45:05
Hội thảo “Xây dựng mô hình Khu CNTT tập trung cho các địa phương"
VINASAT-2 đã được phóng thành công lên quỹ đạo
“Mổ xẻ” mô hình Khu CNTT tập trung ở địa phương
Nhà nước sẽ hỗ trợ 50 – 70% chi phí đào tạo cho DN phần mềm
Đã đến thời của truyền hình số mặt đất
Trang chủ|Giới thiệu|Sự kiện|Tin tức|Giải thưởng|CLB& Diễn đàn|Liên hệ|Sơ đồ site|Blog
Điện thoại : (04) 3577 2336 - 3577 2338
Email: vinasa01@hn.vnn.vn
Fax: (04) 3577 2337
Địa chỉ: Số 7 Xã Đàn, Đống Đa, Hà Nội - Sơ đồ
 
VietNamese 

HIỆP HỘI PHẦN MỀM VÀ DỊCH VỤ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VIỆT NAM - VIET NAM SOFTWARE AND IT SERVICES ASSOCIATION

Tài trợ bởi Active Group